Tiểu luận Vận dụng quy luật mâu thuẫn trong việc nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho ĐVTN học sinh của đoàn TNCS Hồ Chí Minh tại trường THPT Quỳ Hợp 2

doc 30 trang yenvu 02/11/2023 960
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tiểu luận Vận dụng quy luật mâu thuẫn trong việc nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho ĐVTN học sinh của đoàn TNCS Hồ Chí Minh tại trường THPT Quỳ Hợp 2", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Tiểu luận Vận dụng quy luật mâu thuẫn trong việc nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho ĐVTN học sinh của đoàn TNCS Hồ Chí Minh tại trường THPT Quỳ Hợp 2

Tiểu luận Vận dụng quy luật mâu thuẫn trong việc nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho ĐVTN học sinh của đoàn TNCS Hồ Chí Minh tại trường THPT Quỳ Hợp 2
	MỞ ĐẦU
Quy luật mâu thuẫn hay còn gọi là quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, là hạt nhân của phép biện chứng trong triết học Mác - Lênin. Mâu thuẫn biện chứng được tạo thành từ hai mặt đối lập có mối liên hệ vừa thống nhất, vừa đấu tranh với nhau. Để thúc đẩy sự phát triển của sự vật tất yếu phải xác định đúng và tìm cách giải quyết mâu thuẫn theo xu hướng vận động của quy luật. Chính vì vậy, quy luật mâu thuẫn được vận dụng làm cơ sở phương pháp luận trong nhiều nội dung, lĩnh vực khác nhau nhằm chỉ ra nguồn gốc, động lực của sự vận động, phát triển.
Thực hiện chức năng là trường học xã hội chủ nghĩa của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, việc giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, tri thức cho thanh niên luôn là một yêu cầu, nhiệm vụ công tác quan trọng, đặt ra thường xuyên, liên tục đối với Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn trong Di chúc: “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên, đào tạo họ trở thành những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”.
Nhận thức được vai trò của Đoàn thanh niên Cộng Sản Hồ Chí Minh trong nhà trường ở thời kỳ đổi mới giáo dục của nước ta, đoàn thanh niên đã không ngừng đổi mới nâng cao hiệu quả các hoạt động công tác Đoàn và phong trào thanh niên, tích cực góp phần cùng nhà trường giáo dục đào tạo thế hệ trẻ thành những con người phát triển toàn diện, phấn đấu vươn lên, sống có ích cho xã hội, tự hoàn thiện mình góp phần xây dựng đất nước theo đúng đường lối của Đảng: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh.
Do vậy việc xác định mâu thuẫn và giải quyết các mâu thuẫn trong giáo dục đạo đức để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho ĐVTN học sinh là một yêu cầu cấp bách đối với Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trường THPT Quỳ Hợp 2. Chính vì vậy tôi chọn đề tài; “Vận dụng quy luật mâu thuẫn trong việc nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho ĐVTN học sinh của đoàn TNCS Hồ Chí Minh tại trường THPT Quỳ Hợp 2” làm tiểu luận tốt nghiệp tốt Trung cấp lý luận chính trị.
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ MÂU THUẪN, CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO ĐVTN CỦA ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH
1. QUY LUẬT MÂU THUẪN
1.1. Nội dung của quy luật mâu thuẫn
Trong ba quy luật của phép biện chứng duy vật thì quy luật mâu thuẫn là hạt nhân của phép biện chứng. Nội dung cơ bản của quy luật mâu thuẫn đã được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác Lênin làm sáng tỏ thông qua các phạm trù: “mặt đối lập”, “sự thống nhất” và “sự đấu tranh” của các mặt đối lập.
“Mâu thuẫn” là sự tác động lẫn nhau của các mặt, các khuynh hướng đối lập, là hiện tượng tất yếu, khách quan và là nguồn gốc của sự vận động và phát triển. “Đối lập”, “mặt đối lập” là phạm trù dùng để chỉ những mặt có những đặc điểm, những thuộc tính có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau tồn tại một cách khách quan trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Các mặt đối lập vừa thống nhất, vừa đấu tranh, vừa chuyển hóa cho nhau và là những nhân tố cấu thành nên mâu thuẫn biện chứng. Sự thống nhất của các mặt đối lập là tương đối, sự đấu tranh của các mặt đối lập là tuyệt đối.
1.2. Một số vấn đề phương pháp luận khi nghiên cứu và vận dụng quy luật mâu thuẫn
Quy luật mâu thuẫn có ý nghĩa phương pháp luận to lớn đối với hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người. Nghiên cứu quy luật mâu thuẫn để phát hiện, nhận thức, phân tích mâu thuẫn và tìm ra con đường đúng đắn để giải quyết mâu thuẫn.
Nhận thức mâu thuẫn tức là phân đôi cái thống nhất và nhận thức các mặt đối lập để nắm bắt sự vật trong sự thống nhất, đồng nhất của các mặt đối lập. Khi phân tích mâu thuẫn phải hiểu rõ nguồn gốc, điều kiện tồn tại và quá trình phát triển của mâu thuẫn. Giai đoạn cuối cùng là tìm ra phương pháp đúng đắn để giải quyết mâu thuẫn. Việc giải quyết mâu thuẫn là kết quả của quá trình đấu tranh của các mặt đối lập. Giải quyết mâu thuẫn không có nghĩa là xóa bỏ mâu thuẫn mà là kết hợp hài hòa các mặt đối lập.
1.3. Vai trò của mâu thuẫn với sự vận động và phát triển.
Sự vận động và phát triển của sự vật thể hiện trong sự thống nhất biện chứng giữa hai mặt: thống nhất của các mặt đối lập và đâu tranh của hai mặt đối lập. Trong đó: thống nhất của các mặt đối lập là tạm thời, tương đối, còn đấu tranh giữa hai mặt đối lập là tuyệt đối. Tính tuyệt đối của đấu tranh giữa các mặt đối lập làm cho sự vận động và phát triển của sự vật là tự thân và diễn ra liên tục. Tính tương đối của thống nhất giữa các mặt đối lập làm cho thế giới vật chất phân hoá thành các bộ phận, các sự vật đa dạng phức tạp, giai đoạn  Như vậy, mâu thuẫn là khách quan phổ biến, đa dạng. Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan đều là thống nhất của các mặt đối lập. Chính sự đấu tranh của các mặt đối lập và sự chuyển hoá giữa chúng là nguồn gốc, động lực của sự phát triển.
2. LÝ LUẬN VỀ ĐẠO ĐỨC
2.1. Khái niệm đạo đức
Ở phương Tây, danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng Latinh là mos, moris, nghĩa là lề thói. Ngoài ra, còn một danh từ nữa cũng hay được sử dụng là ethicos, có gốc từ chữ Hy Lạp cũng có nghĩa là lề thói, tập tục. Theo nghĩa đó, khi nói đến đạo đức là nói đến những lề thói, tập tục biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người với người trong giao tiếp với nhau hàng ngày.
Ở phương Đông, người Trung Quốc cổ đại sớm đưa ra các học thuyết về đạo và đức của họ. Theo đó, Đạo có nghĩa là con đường, đường đi, về sau khái niệm này được vận dụng trong triết học nhằm chỉ con đường của tự nhiên. Sau đó, đạo không chỉ là con đường của tự nhiên, mà còn có nghĩa là đường sống của con người trong xã hội. Đức dùng để nói đến nhân đức, đức tính, là biểu hiện của đạo nghĩa, là nguyên tắc của luân lý. Như vậy, đạo đức được hiểu như những nguyên tắc, các quy định, các chuẩn mực xã hội nhằm điều tiết hành vi của con người mà mỗi người sống trong đó cần phải tuân theo.
Đạo đức còn là tổng hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực điều tiết hành vi trong mối quan hệ giữa con người với con người, con người với tựnhiên, giữa cá nhân với xã hội. Nó được phát triển, bị ảnh hưởng nhiều bởi các chế độ kinh tế - xã hội khác nhau. Trong quá trình phát triển đó, cùng với sự vận động biến đổi của tồn tại xã hội, đạo đức cũng có những biến đổi, như các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác đã từng nói rằng, “Từ dân tộc này sang dân tộc khác, từ thời đại này sang thời đại khác, những quan niệm về thiện và ác đã biến đổi nhiều đến mức chúng thường trái ngược hẳn nhau”.
Có thể thấy rằng, thứ nhất, với tư cách hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội, đạo đức chịu ảnh hưởng của tồn tại xã hội. Tuy nhiên, ở đây, có thể thấy rằng, quan hệ giữa kinh tế với đạo đức không phải là quan hệ đơn trị, một chiều. Vì vậy, không phải mọi biến đổi nào đó trong cơ sở kinh tế cũng đều nhất thiết và ngay lập tức dẫn đến sự biến đổi tương ứng trong đạo đức. Không phải mọi sự phát triển kinh tế nào cũng dẫn đến sự tiến bộ đạo đức. Hơn nữa, đạo đức còn bị ảnh hưởng triết học, chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo, nghĩa là của toàn bộ đời sống tinh thần. Thứ hai, với tư cách là những nguyên tắc, chuẩn mực xã hội  điều tiết hành vi con người, người nào thực hiện đúng những nguyên tắc, chuẩn mực đó được coi là có đạo đức, được xã hội ủng hộ, biểu dương và ngược lại.
2.2. Giáo dục đạo đức
Có nhiều quan niệm khác nhau về giáo dục đạo đức, song có thể coi “giáo dục đạo đức là quá trình tác động có mục đích của chủ thể giáo dục đến đối tượng giáo dục để hình thành trong họ những yếu tố, tình cảm, niềm tin, lý tưởng và tất cả được thể hiện ở những hành vi đạo đức” [2, tr.45]. Như vậy, giáo dục đạo đức không chỉ làm cho con người nhận thức đúng các chuẩn mực đạo đức, các giá trị đạo đức mà còn thông qua đó để hình thành niềm tin và tình cảm đạo đức.
Giáo dục đạo đức là một trong những hoạt động nhằm góp phần chuyển đạo đức xã hội thành đạo đức cá nhân. Đây cũng là quá trình mang những tri
thức, kinh nghiệm, chuẩn mực đạo đức xã hội thành những phẩm chất đạo đức cá nhân, làm phát triển ý thức cũng như năng lực đánh giá và thực hiện hành vi đạo đức, năng lực tham gia vào các quan hệ đạo đức xã hội của cá nhân. Giáo dục đạo đức góp phần hình thành những quan điểm cơ bản nhất, những nguyên tắc, quy tắc và chuẩn mực đạo đức trong từng cá nhân cụ thể; giúp họ xác lập khả năng lựa chọn, đánh giá các hiện tuợng xã hội.
Giáo dục đạo đức cũng góp phần tích cực trong việc kế thừa và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống. Những giá trị đạo đức truyền thống chỉ có thể được các thế hệ sau tiếp nhận thông qua giáo dục đạo đức như: thông qua giáo dục tình yêu quê hương đất nước, lòng tự hào dân tộc, thế hệ trẻ sẽ tiếp nhận được những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc như lòng yêu nước, yêu hòa bình, tôn trọng đạo lý, tinh thần đoàn kếtNhờ các hoạt động giáo dục đạo đức mà các thế hệ sau luôn kế thừa và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc và nhờ vậy, các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc ta không bị mai một. Quan điểm này cũng được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ trong Di chúc, theo Bác, tương lai của đất nước, của dân tộc nằm ngay trong tay các thế hệ thanh niên: “Thanh niên là người tiếp sức cách mạng cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai”.
Bên cạnh đó, giáo dục đạo đức cũng giúp cá nhân hoàn thiện nhân cách của mình. Người ta sinh ra là người, nhưng nhân cách chỉ hình thành trong hoạt động và giao tiếp. Về thực chất, đó là quá trình xã hội hóa cá nhân, cá nhân tiếp thu các giá trị văn hóa, đạo đức của gia đình, cộng đồng, xã hội để có thể gia nhập vào xã hội. Do vậy, không chỉ dừng lại ở bồi dưỡng nhận thức về chuẩn mực đạo đức xã hội mà giáo dục đạo đức còn góp phần định hình và phát huy, hoàn thiện nhân cách, các chuẩn mực hành vi đạo đức cần thiết của con người như: tri thức, niềm tin; tình cảm, thái độ; hình thành cho mỗi người
Về nội dung giáo dục đạo đức: tùy theo mục tiêu của các chủ thể giáo dục, nội dung giáo dục đạo đức có sự khác nhau giữa các quốc gia, dân tộc; giữa các thời kỳ lịch sử khác nhau. Ví dụ, như ở phương Đông thời kỳ phong kiến, nội dung giáo dục đạo đức tập trung vào những nội dung như “nhân,lễ, nghĩa, trí, tín”
Về phương pháp và hình thức giáo dục đạo đức: phương pháp đàm thoại, diễn giải, thi đua, nêu gương, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn
Trong công tác giáo dục, đối tượng giáo dục cũng là một nhân tố quan trọng trong giáo dục. Bởi các chủ thể giáo dục dù có nội dung, phương pháp giáo dục hay đến thế nào đi chăng nữa mà đối tượng giáo dục không tiếp thu thì quá trình giáo dục cũng khó đạt hiệu quả như mong muốn. Đây chính là quá trình tự giáo dục của đối tượng giáo dục.
3. Tầm quan trọng và nội dung giáo dục đạo đức cho thanh niên của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
3.1. Tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức cho thanh niên học sinh
Hiện nay theo Luật Thanh niên có hiệu lực từ ngày 01/07/2006 thì “Thanh niên quy định trong Luật này là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi”.
Với độ tuổi từ 16 đến 30, thanh niên có những đặc điểm cơ bản sau:
Có sự phát triển nhanh chóng về thể chất, tâm lý và trí tuệ, có mặt trong mọi lĩnh vực hoạt động xã hội, có quan hệ gắn bó mật thiết với tất cả các giai cấp, tầng lớp trong xã hội; là lực lượng xã hội to lớn đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc.
Thanh niên tiếp thu học vấn và giáo dục từ gia đình, nhà trường để bắt đầu cuộc sống độc lập trong xã hội với một nghề chuyên môn nhất định và một việc làm cũng như chỗ làm việc cụ thể. Đồng thời, thanh niên, một mặt, tiếp nhận giáo dục xã hội, từ đó, hình thành thế giới quan, nhân sinh quan của mình; mặt khác, có khả năng chuyển hóa giáo dục - đào tạo của xã hội để tạo nên những phẩm chất riêng của mình.
Một trong những đặc điểm nổi bật của thanh niên là những người giàu ước mơ, hoài bão, luôn có nhu cầu tìm hiểu, thích khám phá, năng động, sáng tạo, thích giao tiếp, thích tham gia các hoạt động xã hội, có nhu cầu cao về tình bạn, tình yêu nam nữ ... Mặt khác, thanh niên ngày nay do điều kiện sinh hoạt vật chất ngày càng được nâng cao nên con người sinh lý, tố chất sinh học phát triển, nhưng những phẩm chất xã hội thì chưa hoàn thiện, chưa ổn định vững vàng. Do đặc điểm này, bên cạnh những ưu điểm nổi trội, trong thanh niên vẫn tiềm ẩn những nhân tố tiêu cực và những hạn chế nhất định, như dễ bị tác động, có sự dao động, tính tự lập và tính kỷ luật chưa tốt,
Với những đặc điểm đặc thù riêng đó của thanh niên, việc thường xuyên giáo dục đạo đức cho thanh niên là hết sức quan trọng.
Thứ nhất, giáo dục đạo đức cho thanh niên là góp phần bồi dưỡng những tri thức, tình cảm đạo đức cho thanh niên hiện nay.
Thứ hai, giáo dục đạo đức cho thanh niên góp phần khắc phục sự xuống cấp về đạo đức của một bộ phận thanh niên hiện nay.
Thứ ba, giáo dục đạo đức góp phần nâng cao tinh thần, trách nhiệm trong học tập, lao động và nghiên cứu để trở thành người lao động – trí thức giỏi.
Như vậy, việc giáo dục đạo đức cho thanh niên đóng vai trò hết sức quan trọng. Nó là con đường, là cách thức cơ bản và chủ yếu để hình thành những phẩm chất đạo đức cho thanh niên; góp phần chuyển những quan niệm đạo đức, những chuẩn mực và nguyên tắc đạo đức từ yêu cầu xã hội thành sự thôi thúc nội tâm của mỗi thanh niên, giúp cho họ nhận thức một cách đầy đủ, đúng đắn những nội dung, yêu cầu, quy tắc đạo đức, qua đó góp phần điều chỉnh hành vi của thanh niên cho phù hợp yêu cầu của xã hội.
3.2. Những nội dung đạo đức cần giáo dục cho thanh niên 
Thứ nhất, giáo dục tình yêu quê hương đất nước , kiên định với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Giáo dục lòng yêu nước cho thanh niên phải bắt đầu từ việc giáo dục cho họ nhận thức được tình yêu quê hương, đất nước, ý thức độc lập dân tộc và xã hội chủ nghĩa gắn chặt với nhau, tạo nên sức mạnh của con người Việt Nam trong thời đại mới. Do vậy, cần làm cho thanh niên hiểu rằng, có giữ vững được độc lập dân tộc thì chúng ta mới xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội; đồng thời chỉ có thể đưa đất nước phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội thì nền độc lập dân tộc mới được bảo đảm vững chắc. Sự gắn bó giữa độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội là thuộc tính của cách mạng Việt Nam; là đặc điểm cơ bản phản ánh nội dung cốt lõi và bản chất của ý thức bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới, như Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”. Thanh niên là người chủ tương lai của đất nước, vì vậy, hơn ai hết, thế hệ trẻ phải có tình yêu đất nước nồng nàn và phải ý thức đ ược một cách sâu sắc vai trò, trách nhiệm, nghĩa vụ của mình đối Tổ quốc, với đồng bào như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "Nhiệm vụ của thanh niên không phải là hỏi nước nhà đã cho mình những gì. Mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho nước nhà! Mình phải làm thế nào cho ích nước lợi nhà nhiều hơn? Mình đã vì lợi ích nước nhà mà hy sinh phấn đấu chừng nào.
Có thể thấy rằng, thế hệ trẻ hôm nay, có rất nhiều cách để thể hiện lòng yêu nước chân chính của mình. Tự giác thực hiện chính sách, pháp luật, tôn trọng kỷ cương, đó cũng là yêu nước. Lao động tích cực, hăng hái, làm giàu chính đáng, đó là yêu nước.
Giáo dục tình yêu quê hương đất nước, lòng tự hào dân tộc, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn sẽ giúp cho thanh niên có thể vượt qua những cám dỗ vật chất tầm thường, đứng vững trên con đường xây dựng quê hương, đất nước còn nhiều khó khăn, thử thách trong giai đoạn hiện nay.
Thứ hai, giáo dục những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc .
Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, nhân dân ta đã xây đắp nên nhiều truyền thống đạo đức cao đẹp. Trong đó, nổi bật là các giá trị đạo đức truyền thống như: lòng yêu thương, độ lượng, tinh thần đoàn kết, lao động cần cù, sáng tạo, sống nhân nghĩa, thủy chung, thôn g minh hiếu học, đề cao nhân phẩm, quý trọng tình người, khiêm tốn, trung thực, giản dị, tiết kiệm - đây là những nét đặc sắc được giữ vững và nâng cao trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, trở thành một tình cảm sâu sắc, thành những giá trị đạo đức tốt đẹp được các thế hệ nối tiếp nhau nâng niu, trân trọng bồi đắp và giữ gìn.
Thứ ba, giáo dục tinh thần lao động, học tập, chăm chỉ, sáng tạo.
Lao động là cơ sở tiến bộ xã hội, là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội. Do vậy, cần giáo dục cho thanh niên có thái độ lao động, học tập đúng đắn, đó là tình cảm, lòng say mê, sự cần cù, tính kỷ luật, sáng tạo trong lao động và học tập. Đức tính cần cù thể hiện trong tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, vượt qua thử thách, một nắng hai sương, thức khuya dậy sớm “canh ba chưa nằm, canh năm đã dậy” vật lộn với đất, với trời để làm ra của cải.
Thứ tư, giáo dục đức tính khiêm tốn, giản dị, trung thực, ý thức tổ chức kỷ luật cho thanh niên
Một trong những đức tính cần thiết nhất để có thể hòa nhập và có được mối quan hệ tốt là đức tính khiêm tốn. Từ điển tiếng Việt đã định nghĩa về khiêm tốn như sau: "Khiêm tốn là biết đánh giá cái hay của mình một cách vừa phải và dè dặt" . Do vậy, khiêm tốn là một đức tính tốt đẹp của con người nó thể hiện qua từng lời nói, cử chỉ và hành động của con người đối với người đối diện một cách thật tâm nhất. Khiêm tốn giúp chúng ta sống tích cực và làm phong phú thêm kiến thức, kinh nghiệm, uy tín, lòng tin, sự yêu mến. Thực tế trong cuộc sống cho thấy, những người có đức tính khiêm tốn họ không biểu lộ sự tự mãn, kiêu căng, bốc đồng nói quá về những gì mình có, đang làm, đang biết và nhờ vậy họ luôn tạo được sự gần gũi, đồng cảm của những người xung quanh. Nhờ đó, họ kết giao được với nhiều người, các mối quan hệ của họ cũng trở nên tốt đẹp, thân tình, bền chặt hơn. Đây là một đức tính tốt mà mỗi thanh niên cần phải trau dồi, rèn luyện và cần phải được giáo dục.
Giản dị theo Hồ Chí Minh là phong cách sống của con người mới. Nghĩa là phải biết sống chừng mực, không cầu kì, xa hoa, ít lòng ham muốn về vật chất, đúng thời, đúng hoàn cảnh. Người dạy thanh niên , trong
lúc nước ta còn nghèo, nhân dân ta còn thiếu thốn mà cá nhân chỉ muốn riêng hưởng ăn ngon, mặc đẹp là không có đạo đức.
Trong thời đại ngày nay, việc giáo dục chuẩn mực đạo đức trung thực cũng rất quan trọng. Sống trung thực là luôn luôn tôn trọng sự thật, chân lý, luôn thành thực với chính mình, với mọi người, với công việc, yêu lẽ phải, ghét sự giả dối. Rèn luyện lối sống trung thực phải bắt đầu từ bản thân mỗi người. Nếu không trung thực với bản thân thì không thể trung thực với mọi người. Trung thực là đầu mối của chữ “Tín”. Nhờ có tính trung thực mà trong quan hệ xã hội, con người được tạo niềm tin, dám dũng cảm đương đầu với mọi thử thách trong cuộc sống. Tính trung thực sẽ giúp con người tạo được lòng tin trong mọi mối quan hệ, giao dịch, đó là sức mạnh lớn nhất giúp thuyết phục người khác. Trung thực làm nên nhân cách con người.
Ý thức tổ chức kỷ luật cũng là một trong những phẩm chất đạo đức cần được quan tâm giáo dục, đặc biệt trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Điều này được biểu hiện qua việc chấp hành những quy định, nội quy như của trường học, cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức một cách tự giác và chủ động. Ngoài ra, ý thực tổ chức kỷ luật cũng thể hiện ở tinh thần tôn trọng pháp luật, thực hiện đúng quy định của pháp luật. Do vậy, việc giáo dục phẩm chất này cho thanh niên sẽ góp phần xây dựng lối sống vì cộng đồng, xã hội văn minh, hiện đại, đặc biệt đối với người dân Việt Nam – một dân tộc có xuất phát điểm là nền nông nghiệp là chủ yếu.
4. Vai trò của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong công tác giáo dục đạo đức cho thanh niên hiện nay
Đoàn bao gồm những thanh niên tiên tiến, phấn đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Điều lệ Đoàn khẳng định: Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là tổ chức chính trị-xã hội của thanh niên Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện”. Điều này phản ánh đầy đủ Đoàn là một tổ chức thanh niên Cộng sản mang tính tiên tiến của giai cấp công nhân và tính quần chúng rộng rãi của thanh niên Việt Nam thông qua việc tổ chức các phong trào, hoạt động có tính chất xã hội, mỗi đoàn viên và cơ sở Đoàn đều được thể hiện tinh thần xung kích cách mạng, thực hiện mục tiêu, lý tưởng của Đảng.
Đoàn có 3 đặc điểm cơ bản: là Đội dự bị tin cậy của Đảng, thường xuyên bổ sung lực lượng trẻ cho Đảng, Nhà nước và các ngành. Đoàn luôn luôn xác định nhiệm vụ của mình là đội quân xung kích cách mạng tích cực tham gia xây dựng Đảng và là người kế tục trung thành sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và của Bác Hồ; là Trường học xã hội chủ nghĩa của thanh niên, tạo môi trường đưa thanh niên vào các hoạt động giúp học tập rèn luyện và phát triển nhân cách, năng lực của người lao động mới phù hợp với yêu cầu của xã hội hiện nay; là Người đại diện, chăm lo và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của tuổi trẻ. Đặc điểm này khẳng định rõ tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là tổ chức của thanh niên, vì thanh niên.
Được xây dựng, rèn luyện và trưởng thành qua các thời kỳ đấu tranh cách mạng, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã tập hợp đông đảo thanh niên phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, cống hiến xuất sắc cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bước vào thời kỳ mới, Đoàn tiếp tục phát huy những truyền thống quý báu của dân tộc và bản chất tốt đẹp của mình, xây dựng thế hệ thanh niên Việt Nam giàu lòng yêu nước, tự cường dân tộc; kiên định lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có đạo đức cách mạng, ý thức chấp hành pháp luật, sống có văn hóa, vì cộng đồng; có năng lực, bản lĩnh trong hội nhập quốc tế; có sức khỏe, tri thức, kỹ năng trong lao động tập thể; xung kích, sáng tạo làm chủ khoa học công nghệ tiên tiến, vươn lên ngang tầm thời đại. 
Thứ nhất, Đoàn là một kênh quan trọng trong việc truyền thụ những tri thức đạo đức cho thanh niên. Thông qua việc tuyên truyền, giáo dục những chuẩn mực đạo đức cho thanh niên như: giáo dục tình yêu quê hương đất nước, kiên định với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam , Đoàn góp phần quan trọng vào quá trình khẳng định những giá trị đạo đức tốt đẹp mà mỗi thanh niên cần hướng tới và góp phần thức tỉnh một bộ phận không nhỏ thanh niên đang sống một cuộc sống thiếu lý tưởng, thiếu niềm tin, thiếu lòng tự hào và kiêu hãnh dân tộc. Đoàn cũng góp phần quan trọng trong việc định hướng cho thanh niên giữ gìn, phát huy những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc như lòng yêu thương, độ lượng, tinh thần đoàn kết, sống nhân nghĩa, thủy chung; khắc phục những tác động tiêu cực của quá trình hội nhập và nền kinh tế thị trường đang là mảnh đất màu mỡ nảy sinh những lối sống ích kỷ, vụ lợi, những thói hư, tật xấu, những tệ nạn xã hội; tạo bước chuyển về chất trong nhận thức, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức của thanh niên, phát huy, khơi dậy trong thanh niên tư duy năng động, sáng tạo, lạc quan, tự tin, dám nghĩ, dám làm, có ý chí khắc phục khó khăn vươn lên lập thân, lập nghiệp với khát vọng cống hiến vì tương lai tươi sáng của dân tộc; sống nhân ái, có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội; góp phần xây dựng cho thanh niên những đức tính cần thiết để có những hành vi phù hợp với những quy tắc ứng xử và chuẩn mực của xã hội
Thứ hai, Đoàn góp phần quan trọng trong việc bồi dưỡng tình cảm đạo đức cho thanh niên Việt Nam hiện nay.
Giáo dục đạo đức cho thanh niên không chỉ thuần túy là giáo dục ý thức, lý trí đạo đức mà quan trọng và sâu xa hơn, Đoàn đã góp phần quan trọng trong việc bồi dưỡng tình cảm đạo đức, để hình thành, phát triển và thường xuyên bồi đắp nhân tính, mà Hồ Chí Minh gọi là tính người, tình người, tình thương yêu con người, lòng nhân ái, vị tha, bao dung, yêu điều thiện, ghét điều ác, bảo vệ cái thiện, trừng trị cái ác. Chính tình cảm đạo đức “sẽ làm sâu sắc thêm mối tương giao giữa con người với con người, giữa con người với tự nhiên”. Sự sâu sắc và tinh tế trong mối tương giao này là một trong những động lực làm tăng thêm sự phong phú, sâu sắc và mạnh mẽ của thế giới nội tâm, thúc đẩy con người vươn lên trong cuộc sống. Do vậy, không chỉ dừng lại ở những hoạt động giáo dục đơn thuần, giáo dục đạo đức được Đoàn thanh niên cụ thể, gắn liền với thực hành đạo đức, để từ lẽ sống trở thành lối sống và nếp sống hằng ngày, củng cố và phát triển nhu cầu đạo đức, thực hành các chuẩn mực, các quy tắc ứng xử đạo đức, làm cho giá trị đạo đức và văn hóa đạo đức trở nên bền vững. Thông qua các hoạt động giáo dục đạo đức để chuyển hóa thành tự giáo dục ở mỗi một chủ thể và định hình, hoàn thiện nhân cách. Trên cơ sở các hoạt động giáo dục ý thức đạo đức, là cơ sở để hình thành niềm tin và tình cảm đạo đức. Từ đó, tạo động lực thúc đẩy hoạt động, dẫn đến những hành vi, hành động đạo đức theo những chuẩn mực và giá trị đạo đức được lựa chọn.
Thứ ba, Đoàn quan tâm chăm lo đến quyền và lợi ích chính đáng, tạo điều kiện thuận lợi và đồng hành, cổ vũ thanh niên học tập, rèn luyện, phấn đấu trưởng thành, góp phần khắc phục những hạn chế trong nhân cách của một bộ phận thanh niên Việt Nam hiện nay. Do vậy, không chỉ định hướng cho thanh niên và phát huy vai trò của thanh niên qua các hoạt động của Đoàn, Đoàn còn tạo môi trường, điều kiện thuận lợi để đồng hành cùng thanh niên trong thực hiện những ước mơ, hoài bão, lý tưởng sống cao đẹp của mình qua các chương trình “Thắp sáng ước mơ tuổi trẻ Việt Nam” với việc tổ chức các chương trình giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm giữa những người thành đạt, những gương điển hình tiên tiến với đoàn viên thanh niên nói chung và đoàn viên thanh niên đã từng một thời lầm lỡ nói riêng; Đoàn đã định hướng giá trị trong việc kế thừa, duy trì các giá trị truyền thống và hình thành những giá trị chuẩn mực mới, phù hợp với thời kỳ mới. Những giá trị truyền thống gia đình, tình nghĩa, đề cao cái tâm, chữ tín và đạo hiếu, lễ nghĩa vẫn được duy trì nhằm hạn chế, khắc phục tính ích kỷ, thờ ơ, thậm chí là lạnh lùng của một số thanh niên dưới tác động của cơ chế thị trường, của hội nhập quốc tế và nhằm “xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam, bảo vệ và phát huy bản sắc dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế. 
Như vậy, việc giáo dục rèn luyện đạo đức cho thanh niên trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế thế giới là góp phần đào tạo, giáo dục thế hệ thanh niên vừa "hồng", vừa "chuyên", góp phần xây dựng nước nhà ngày càng phát triển. Do vậy, hơn lúc nào hết, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với chức năng là “Trường học xã hội chủ nghĩa của thanh niên”, là đội dự bị tin cậy của Đảng cần phát huy tốt hơn những vai trò của mình trong công tác giáo đạo đức cho thanh niên trong giai đoạn hiện nay.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CỦA CÔNG TÁC GIÁO DỤC  ĐẠO ĐỨC CHO ĐVTN Ở TRƯỜNG THPT QUỲ HỢP 2 TRONG NHỮNG NĂM VỪA QUA
 	1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH CHUNG
 1.1. Khái quát về trường THPT Quỳ Hợp 2 và địa phương
 	Trường THPT Quỳ Hợp 2 được thành lập từ năm 1997, tiền thân từ Phân hiệu 2 của trường THPT Quỳ Hợp. Địa điểm của trường là xóm Quyết Tiến - xã Tam Hợp - huyện Quỳ Hợp - tỉnh Nghệ An, đến năm 2004 trường chuyển về tại xóm Tân Mỹ - xã Tam Hợp - huyện Quỳ Hợp.
 Năm học 1997 - 1998 trường có 4 lớp 8  (nay là lớp 10) với 200 học sinh và gần 20 giáo viên, từ năm học 2007 - 2008 đến nay.
 	Năm học 2019-2020 trường có 36 lớp (12 lớp 12, 12 lớp 11 và 12 lớp 10) với hơn 1300 học sinh; tổng số CB,GV,NV là 87 người (3 CBQL; 77 GV; 5 NV). Chi bộ Đảng gồm 51 đảng viên với chi uỷ gồm 5 đồng chí. Công đoàn trường có trên 87 đoàn viên. Đoàn trường có 36 chi đoàn học sinh và 1 chi đoàn giáo viên. 
Các tổ chức đoàn thể: Chi bộ có 51 đảng viên, Công Đoàn có 87 công đoàn viên; Đoàn trường có 01 chi đoàn giáo viên và 36 chi đoàn các lớp học sinh với 786 đoàn viên.
Tổng số học sinh: có 1400 học sinh, Ban đại diện Cha mẹ học sinh nhà trường gồm 3 người và 36 chi hội cha mẹ học sinh các lớp.
Tỷ lệ học sinh lên lớp và đỗ tốt nghiệp hàng năm đạt 90 - 98%. Học sinh lớp 12 đỗ vào Đại học, Cao đẳng từ mức 10.02% năm 2006, đã lên đến 63.58% năm 2010. Tỷ lệ  học sinh xếp loại hạnh kiểm khá, tốt hàng năm luôn được duy trì  từ 89.0% đến 93.6 %. Tỷ lệ học sinh xếp hạnh kiểm loại trung bình và yếu hàng năm từ 6,4% đến 11.0%.
 	 1.2. Những thuận lợi, khó khăn trong công tác giáo dục đạo đức ĐVTN học sinh của tổ chức đoàn TNCS Hồ Chí Minh ở trường THPT Quỳ Hợp 2
 	 1.2.1. Những thuận lợi
 	 Đoàn TNCS Hồ Chí Minh của trường có bề dày truyền thống về công tác giáo dục ĐVTN học sinh, với gần 20 năm xây dựng và trưởng thành tổ chức đoàn TNCS Hồ Chí Minh của trường đã góp phần giáo dục được nhiều thế hệ ĐVTN học sinh thành đạt.
Đoàn trường có đội ngũ BCH là giáo viên có tinh thần đoàn kết, yêu nghề và tận tâm, nhiệt tình, năng động, sáng tạo trong công việc. Một số đồng chí có kinh nghiệm trong công tác giáo dục đạo đức học sinh.
Đội ngũ BCH là giáo viên có tuổi đời còn trẻ, nhiệt tình, năng động, có năng lực chuyên môn vững vàng, có thời gian bám lớp, bám trò năng nổ trong công tác. đây là một nhiệm vụ thiết thực hướng đến xây dựng “trường học thân thiện, học sinh tích cực” góp phần lớn trong công tác giáo dục đạo đức học sinh.
Được sự quan tâm của Sở Giáo dục và Đào tạo Nghệ An, Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện Quỳ Hợp và địa phương trên địa bàn trường đóng.
Sự quan tâm hỗ trợ của phụ huynh học sinh đối với nhà trường trong việc chăm lo cơ sở vật chất, xây dựng môi trường xanh - sạch – đẹp - an toàn.
Công tác phối hợp 3 môi trường giáo dục: Nhà trường - gia đình - xã hội đã phát huy tác dụng tốt, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục toàn diện của nhà trường.
 1.2.2. Những khó khăn
Đội ngũ nhà trường chưa có nhiều kinh nghiệm về giáo dục đạo đức cho học sinh là con em dân tộc ít người, với những đặc điểm riêng biệt về tâm sinh lý dân tộc, nhất là đặc đặc điểm về hủ tục quá phức tạp về tư tưởng, quan hệviệc liên lạc với phụ huynh học sinh gặp nhiều khó khăn. 
Việc giáo dục đạo đức cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn, như học sinh mồ côi, gia đình không hạnh phúc, cha mẹ bất hòa, ly hôn ít có điều kiện chăm sóc con cái và bản thân; có em đã va vấp ngoài xã hội, tâm lý bất cần, chai sạn. Mặt khác, mặt bằng kiến thức một số học sinh có điểm đầu vào thấp, tiếp thu chậm, hổng kiến thức ở các lớp dưới nên khó nâng cao chất lượng giáo dục, đặc biệt là giáo dục đạo đức cho các em.
Không ít học sinh ham chơi, lười học, thiếu chịu khó rèn luyện, tu dưỡng không chỉ làm cản trở kết quả học tập mà còn ảnh hưởng đến chất lượng, kết quả giáo dục đạo đức học sinh của Nhà trường.
Địa bàn khu vực nhà trường đóng là khu vực miền núi, trình độ dân trí chưa cao, nhận thức về sự học, truyền thống hiếu học còn mặt hạn chế, đời sống của một bộ phận dân cư còn nghèo nên tác động nhiều đến việc đạt được các tiêu chí của trường chuẩn quốc gia.
Quan niệm về việc học và đầu tư cho học tập của con em ở địa phương chưa đồng bộ, một số gia đình vẫn còn thiếu tính chủ động hoặc chỉ đứng ngoài cuộc phó mặc việc giáo dục học sinh cho nhà trường.
2. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ NGUYÊN NHÂN
	2.1. Những kết quả đạt được trong công tác giáo dục đạo đức cho ĐVTN học sinh của tổ chức đoàn TNCS Hồ Chí Minh ở trường THPT Quỳ Hợp 2
Triển khai tốt Chương trình hành động của Đoàn thực hiện Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24/3/2015 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ, giai đoạn 2015 - 2030”; Kết luận của Ban Chấp hành Trung ương Đoàn về các giải pháp tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng cho đoàn viên, thanh niên; Đề án “Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thanh thiếu nhi, giai đoạn 2018 - 2022” gắn với việc cụ thể trong duy trì nề nếp của đoàn trường.
Tăng cường chuyển tải các nội dung học tập và vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các Nghị quyết của Đảng, của Đoàn, lý luận chính trị đến ĐVTN bằng nhiều hình thức; phát thanh học đường, các cuộc thi, hội thi và sân khấu hóa, hội diễn để trong ĐVTN để tuyên truyền và thực hiện. 
Tổ chức cho ĐVTN giáo viên và học sinh đăng ký các nội dung cụ thể việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh năm 2018 và 2019 gắn với thực tế của Nhà trường; chú trọng những việc làm theo bằng những hành động và việc làm cụ thể, thường xuyên rèn luyện, thực hành các thói quen tốt trong giảng dạy và học tập hàng ngày sát với thực tế của trường. 
	Đẩy mạnh quán triệt, học tập và triển khai Nghị quyết Đại hội Đoàn toàn tỉnh lần thứ XVII, Nghị quyết Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XI của đoàn trong đoàn viên, thanh niên trường học với nhiều hình thức hấp dẫn theo KH của Ban Bí thư Trung ương Đoàn.
Phối hợp tổ chức các hoạt động giáo dục lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc trong học sinh: Tuyên truyền, tổ chức các hoạt động nhân kỷ niệm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam 03/02, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh 26/03, Hội Sinh viên Việt Nam 09/01, các ngày lễ lớn, các sự kiện quan trọng của trường, địa phương, đất nước, tuyên truyền về những hình ảnh đẹp của đất nước, con người Việt Nam, lịch sử dân tộc. Đoàn các trường chủ động tham mưu với cấp uỷ, Ban giám hiệu trường tổ chức chào cờ, hát Quốc ca, Đoàn ca hàng tuần. 
Tổ chức các hoạt động giáo dục đạo đức, lối sống thông qua các chủ đề Ngoại khóa, ngoài giờ lên lớp, thội thi“rung chuông vàng” chủ đề dân số năm học 2018-2019 cho ĐVTN góp phần hình thành thói quen chấp hành luật giao thông trong ĐVTN. Vận động, giám sát thanh niên trường học sống đẹp, chia sẻ, học tập những câu chuyện đẹp về lối sống trong xã hội, trong học sinh. Đoàn trường đã chủ động, kịp thời tổ chức các hình thức thông tin, trao đổi để học sinh nhận thức đúng trước những biểu hiện chưa tốt về đạo đức, lối sống của thanh niên trong nhà trường, xã hội.
Tiếp tục triển khai các phong phong trào “Học sinh 3 tốt”, “Khi tôi 18” và tổ chức có hiệu quả các hoạt động, phát huy khả năng sáng tạo của thanh niên trường học, các hoạt động tư vấn hướng nghiệp cho học sinh.
Tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trên mạng XH trong các hoạt động giáo dục của đoàn; chú trọng đổi mới phương pháp nắm bắt tình hình tư tưởng, dư luận của học sinh; kịp thời, chủ động định hướng dư luận cho học sinh trước những vấn đề quan trọng, thời sự. Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ hàng quý về tình hình tư tưởng và dư luận trong thanh niên trường học. 
Phối hợp với BGH tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật về ATGT như; “An toàn GT cho nụ cười ngày mai”, do sở GD&ĐT Nghệ An triển khai để giáo dục pháp luật ATGT và cuộc thi online “tìm hiểu hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính và cung cấp, sử dụng dịch vụ công” cho ĐVTN của nhà trường. 
Phối hợp duy trì tốt việc thực hiện nề nếp trong đoàn viên thanh niên học sinh và chi đoàn giáo viên nhằm góp phâng giáo dục đạo đức lối sống cho ĐVTN.
Tổ chức các hoạt động giáo dục đạo đức, lối sống, góp phần hình thành thói quen tốt trong môi trường học đường, ngoài xã hội và trên mạng internet cho học sinh. Vận động thanh niên trường học sống đẹp, chia sẻ, học tập những câu chuyện đẹp về lối sống trong xã hội; hình thành thói quen thường xuyên đọc sách trong học sinh. Kết quả công tác nắm bắt tình hình tư tưởng, dư luận của học sinh; kịp thời, chủ động định hướng dư luận cho học sinh trước những vấn đề quan trọng, thời sự...
Tổ chức ký cam kết không tàng trữ và sử dụng pháo và tham gia giao thông an toàn trong dịp lễ, tết đảm bảo tính thiết thực và hiệu quả.
2.2. Chất lượng xếp loại ĐVTN và hạnh kiểm của học sinh
	Kết quả phân loại hàng năm có: 25 % - 30% chi đoàn vững mạnh; 20%-25% chi đoàn khá, 16% chi đoàn trung bình, không có chi đoàn yếu.
	Kết quả phân loại đoàn viên cuối năm có: 80%-85% ĐV xếp loại xuất sắc; 10%-12% ĐV xếp loại khá, 3% - 5% ĐV xếp loại trung bình, 0% đoàn viên yếu.
Kết quả đạt được về hạnh kiểm của học sinh là phần lớn các em có được những hiểu biết ban đầu về một số chuẩn mực hành vi đạo đức, từng buớc hình thành thái độ tự trọng, tự tin vào khả năng của bản thân, có trách nhiệm với hành động của mình, yêu thương, tôn trọng con người, mong muốn đem lại niềm vui, hạnh phúc cho mọi người.
Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn một số bộ phận học sinh chưa ngoan, thường hay vi phạm đạo đức.
Thống kê xếp loại Hạnh kiểm của học sinh trong các năm học gần đây
THỐNG KÊ XẾP LOẠI HẠNH KIỂM TRƯỜNG THPT QUỲ HỢP 2
Từ năm học 2015 đến 2019
Nội dung
Năm học
Năm học
Năm học
Năm học
2015 - 2016
2016 - 2017
2017 - 2018
2018 – 2019
Tổng số HS
1280
1223
1229
1273
Tốt
1055 (82,4%)
1016 (81,9%)
1037 (84,38%)
1098 (86,3%)
Khá
193 (15,1%)
186 (15,0%)
151 (12,29%)
153 (12%)
Trung bình
25 (2,0%)
34 (2,7%)
38 (2,93%)
15 (1,5%)
Yếu
7 (0,5%)
3 (0,4%)
3 (0,4%)
3 (0,23%)
 Hạnh kiểm loại tốt hàng năm của học sinh trong trường đều chiếm tỷ lệ cao, từ 77.5 % ( 2012-2013) đến 86.3% (2018-2019), trong đó có nhiều lớp tỷ lệ học sinh xếp hạnh kiểm loại tốt đạt 100%. Học sinh xếp loại trung bình và yếu dao động từ 4.0% (2012-2013) xuống 2% (2018-2019).
KẾT QUẢ XẾP LOẠI HẠNH KIỂM TRƯỜNG THPT QUỲ HỢP 2
NĂM HỌC 2015 – 2016
Đánh giá học sinh
Tổng số
Chia ra
Lớp 10
Lớp 11
Lớp 12
Số học sinh chia theo hạnh kiểm
1280
422
424
434
Chia ra: Tốt
1055
337
350
368
Trong TS: + Nữ
671
202
241
228
+ Dân tộc
198
67
66
65
 + Nữ dân tộc
66
23
18
25
Khá
193
65
63
65
Trong TS: + Nữ
76
23
32
21
 + Dân tộc
50
15
26
9
 + Nữ dân tộc
12
4
5
3
Trung bình
25
15
9
1
Trong TS: + Nữ
7
4
2
1
+ Dân tộc
14
8
5
1
 + Nữ dân tộc
5
3
2
0
Yếu
7
5
2
0
KẾT QUẢ XẾP LOẠI HẠNH KIỂM TRƯỜNG THPT QUỲ HỢP 2
NĂM HỌC 2016 – 2017
Đánh giá học sinh
Tổng số
Chia ra
Lớp 10
Lớp 11
Lớp 12
Số học sinh chia theo hạnh kiểm
1223
423
386
414
Chia ra: Tốt
1016
310
342
364
Trong TS: + Nữ
628
207
203
218
 + Dân tộc
201
60
66
75
 + Nữ dân tộc
136
48
38
50
Khá
172
84
38
50
Trong TS: + Nữ
50
27
9
14
 + Dân tộc
50
22
14
14
 + Nữ dân tộc
12
7
3
2
Trung bình
35
29
6
0
Trong TS: + Nữ
2
2
0
0
 + Dân tộc
9
8
1
0
 + Nữ dân tộc
0
0
0
0
Yếu
 3
2 
 1
0
Trong TS: + Nữ
0
0
0
0
 + Dân tộc
0
0
0
0
 + Nữ dân tộc
0
0
0
0
KẾT QUẢ XẾP LOẠI HẠNH KIỂM TRƯỜNG THPT QUỲ HỢP 2
NĂM HỌC 2017 – 2018
Đánh giá học sinh
Tổng số
Chia ra
Lớp 10
Lớp 11
Lớp 12
Số học sinh chia theo hạnh kiểm
1229
439
395
395
Chia ra: Tốt
1037
387
272
378
Trong TS: + Nữ
614
231
177
206
 + Dân tộc
205
69
54
82
 + Nữ dân tộc
128
46
38
44
Khá
151
43
91
17
Trong TS: + Nữ
50
13
34
3
 + Dân tộc
34
15
16
3
 + Nữ dân tộc
14
5
9
0
Trung bình
38
13
25
0
Trong TS: + Nữ
5
0
5
0
 + Dân tộc
5
0
5
0
 + Nữ dân tộc
2
0
2
0
Yếu
3
2
1
0
Trong TS: + Nữ
1
0
1
0
 + Dân tộc
1
0
1
0
 + Nữ dân tộc
0
0
0
0
KẾT QUẢ XẾP LOẠI HẠNH KIỂM TRƯỜNG THPT QUỲ HỢP 2
NĂM HỌC 2018 – 2019
Đánh giá học sinh
Tổng số
Chia ra
Lớp 10
Lớp 11
Lớp 12
Số học sinh chia theo hạnh kiểm
1273
458
433
382
Chia ra: Tốt
1098
358
392
348
Trong TS: + Nữ
670
235
233
202
 + Dân tộc
205
69
75
61
 + Nữ dân tộc
142
54
47
41
Khá
153
84
36
33
Trong TS: + Nữ
38
25
6
7
 + Dân tộc
20
7
6
7
 + Nữ dân tộc
6
3
2
1
Trung bình
19
13
5
1
Trong TS: + Nữ
0
0
0
0
 + Dân tộc
2
1
1
 + Nữ dân tộc
0
0
0
0
Yếu
3
3
0
0
Trong TS: + Nữ
3
3
0
0
 + Dân tộc
2
2
0
0
 + Nữ dân tộc
2
2
0
0
	3. NHỮNG HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN
3.1. Những hạn chế trong công tác giáo dục đạo đức cho ĐVTN học sinh tại trường THPT Quỳ Hợp 2
Mặc dù chất lượng giáo dục đạo đức cho ĐVTN học sinh đã có sự biến chuyển nhưng còn những tồn tại và hạn chế sau đây; 
- Công tác xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức cho ĐVTN học sinh chưa được sự quan tâm, chưa sát với thực tế và dự báo theo những biến động về đời sống KT-XH của địa phương chủ yếu dựa vào kế hoạch chỉ đạo từ cấp trên. Trong năm học 2019-2020 Nhà trường có 01 kế hoạch nhưng được lồng ghép, Đoàn trường và GVCN không có kế hoạch chi tiết.
- Việc thực hiện các biện pháp kiểm tra công tác giáo dục đạo đức cho học sinh của lãnh đạo nhà trường, Đoàn thanh niên còn chưa thường xuyên năm học 2019-2020 chỉ kiểm tra được 05/năm học đợt, hình thức kiểm tra còn máy móc, đơn điệu ít kiểm tra trực tiếp như dự giờ, kiểm tra đột xuất 02 đợt.
- Việc lồng ghép giáo dục đạo đức cho học sinh ở các bộ môn, đặc biệt là môn giáo dục công dân, tích hợp trong các môn học và hoạt động ngoại khóa còn mang tính hình thức tuy có thể hiện trên giáo án nhưng ít khi đề cập, chưa được quan tâm đúng mức mỗi năm học có 09 chủ đề ngoài giờ nhưng chỉ có 01 chủ đề về giáo dục đạo đức cho học sinh.
- Một số cán bộ, giáo viên đặc biệt là cán bộ đoàn, giáo viên chủ nhiệm chưa nắm được và chưa nhận thức rõ tinh thần chỉ đạo, chủ trương của Đảng, Đoàn và nhà nước, Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT và nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường hàng năm, theo khảo sát chỉ có khoảng 40% giáo viên năm được.
- Sự phối hợp trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh của các CB,GV, các tổ chức, đội cờ đỏ, ban an ninh, Hội CMHS còn chưa ăn khớp, nhịp nhàng và chưa đồng bộ các năm học chưa tổ chức được Hội nghị bàn về giải pháp giáo dục đạo đức cho học sinh.
- Việc phân công giáo viên chủ nhiệm thường theo mặt bằng lao động mà chưa đặt năng mục tiêu giáo dục đạo đức lên hàng đầu, công tác quản lý học sinh của một số GVCN chưa sát và đồng bộ.
- Một số gia đình học sinh còn chưa thực sự quan tâm đến giáo dục con cái, còn nuông chiều bênh vực, phó mặc cho nhà trường. Một số phụ huynh chưa có phương pháp giáo dục khoa học, nặng về bạo lực. Thậm chí có phụ huynh còn hoàn toàn bất lực trước việc giáo dục con.
- Hình thức giáo dục đạo đức chưa đa dạng, chưa tạo được sức lôi cuốn với ĐVTN chủ yếu từ các tiết học, được lồng ghép để giáo dục, chủ yếu là lý thuyết học sinh chưa có những trải nghiệm trong Nhà trường.
- Chưa có sự phối hợp đồng bộ giữa các lực lượng tham gia giáo dục đạo đức cho ĐVTN. Trong Nhà trường chủ yếu từ giáo viên chủ nhiệm tổ chức Đoàn và giáo viên bộ môn.
- Công tác kiểm tra, đánh giá kết giáo dục đạo đức hàng năm chưa thường xuyên còn mang tính chủ quan chỉ dựa và xếp hạnh kiểm, chưa rút ra được giải pháp phù hợp cho từng năm học và từng giai đoạn cụ thể.
3.2. Nguyên nhân
Nguyên nhân dẫn đến các sa sút về đạo đức, lối sống của giới trẻ hiện nay Trước tiên phải khẳng định là do từ chính học sinh, chính các em - chủ thể của các hành vi vô đạo đức mà chưa được giáo dục đầy đủ, kém phát triển về phẩm chất đạo đức, nhân cách.
Thứ hai là từ phía gia đình các em học sinh, sinh viên như gia đình đã thiếu sự quan tâm đến con cái, thả lỏng, buông trôi việc giáo dục đạo đức, con cái mình, phó mặc cho nhà trường mỗi năm chỉ có tù 1-2 lần họp phụ huynh.
Thứ ba, nguyên nhân từ tập thể lớp học, nhà trường đã chưa đủ sức trở thành tấm gương, nguồn sức mạnh giáo dục răn đe con trẻ. Nhiều thầy cô đã tạo nên những áp lực học tập quá mức, không cần thiết, thiếu minh bạch, công tâm, đôi lúc chưa thực sự gương mẫu trước các em. Trong giáo dục chưa coi trọng tình người, còn nể nang, trù úm học sinh có những biểu hiện đạo đức yếu kém.
Thứ tư, hành vi đạo đức của một số em có chịu tác động xúi bẩy của một số người hoặc nhóm bạn xấu trong lớp mà nhà trường, thầy cô giáo chưa biết cách ngăn chặn kịp thời.
Thứ năm, tác động của văn hóa đạo đức thiếu lành mạnh từ các Game online đang lan tràn hiện nay cũng là một trong những nguyên nhân gợi ý các em có những hành vi thiếu chuẩn mực.
Thứ sáu, về phía xã hội, phải nhìn nhận thẳng thắn là trong nhiều năm qua, đã buông lỏng giáo dục đạo đức cho người dân nói chung và cho học sinh nói riêng.
Ngoài ra, do đặc điểm tâm, sinh lý tuổi dậy thì, tình cảm của các em chưa bền vững, không ổn định, khả năng làm chủ bản thân còn yếu trước những tác động tiêu cực từ môi trường bên ngoài mà vượt qua ranh giới đạo đức cho phép.
4. MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TỪ THỰC TRẠNG ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO ĐVTN HIỆN NAY
Trong thực trạng hiện nay ở trường THPT Quỳ Hợp 2 phát sinh các mâu thuẫn cơ bản giữa chất lượng đạo đức và các yếu tố sau;
 4.1. Mâu thuẫn giữa các lực lượng tham gia và sự phối hợp giáo dục đạo đức và chất lượng đạo đức của ĐVTN học sinh
Để thành công trong giáo dục đạo đức cho ĐVTN học sinh, nhất định cần sự tham gia của nhiều lực lựng trong đó có 03 lực lượng nòng cốt tham gia là: gia đình, nhà trường và xã hội, trong đó cần xác định các yếu tố cốt lõi trong các lực lượng tham gia và xác định các mức độ phối hợp giữa ba lược lượng này, tuy nhiên hiện nay việc giáo dục đạo đức cho học sinh chủ yếu đơn độc của nhà trường, vai trò của gia đình và xã hội còn mờ nhạt, từ đó dẫn đến sự phối hợp của ba lược lượng này chưa chặt chẽ. Ngay trong nhà trường việc phối hợp giữa các bộ phận với nhau và với GVCN cũng chưa thật sự chặt chẽ dẫn đến chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh chưa hiệu quả. 
Thực trạng hiện nay cho thấy sự tham gia và phối hợp giữa Gia đình, nhà trường và xã hội, trong giáo dục đạo đức chưa thực hiện tốt dẫn đến chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh còn những hạn chế nhất định.
4.2. Mâu thuẫn giữa nội dung, hình thức giáo dục đạo đức và chất lượng giáo dục đạo đức ở ĐVTN
Để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cần thực hiện việc đổi mới các hoạt động giáo dục đạo đức, lối sống văn hóa, giáo dục kỹ năng sống, đáp ứng yêu cầu phát triển toàn diện cho ĐVTN học sinh với nhiều hình thức phong phú, đa dạng. Nội dung và hình thức tổ chức trong nhà trường thực hiện qua tích hợp vào giảng dạy chính khóa các nội dung giáo dục đạo đức, Giáo dục công dân chưa hiệu quả; qua các Hoạt động ngoài giờ lên lớp và ngoài nhà trường qua các hoạt động ngoại khóa chạy theo số lượng đủ chỉ tiêu đề ra, chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các đoàn thể, tổ chức xã hội, dẫn đến chưa đáp ứng yêu cầu của thực tế của hoạt động giáo dục đạo đức. Do nội dung và hình thức chưa đa dạng, không lôi cuốn được sự tham gia của học sinh nên chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh chưa được nâng cao.
4.3. Mâu thuẫn giữa ý thức tổ chức kỷ luật, chấp hành nề nếp của một bộ phận ĐVTN và chất lượng giáo dục đạo đức ở ĐVTN 
Không thể phủ nhận ở các nhà trường THPT hiện nay, đó là tình trạng một bộ phận đoàn viên thanh niên học sinh ngày càng suy thoái về mặt đạo đức, lối sống, vi phạm các tệ nạn xã hội, nội qui, qui định nền nếp của nhà trường như: thường xuyên bỏ tiết, vắng học la cà hàng quán, chơi games, tụ tập uống rượu, hút thuốc, thậm trí còn vô lễ với giáo viên , “kéo bè, kéo cánh” gây bạo lực học đườngThực trạng đó đang là mối lo ngại rất lớn đối với nhà trường – gia đình – xã hội. Đối với nhà trường thì đây là vấn đề ảnh hưởng không nhỏ đến nâng cao chất lượng dạy – học, cũng như giáo dục đạo đức cho học sinh. 
Chương III
GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO ĐVTN HỌC SINH CỦA TỔ CHỨC ĐTNCS HỒ CHÍ MINH TẠI TRƯỜNG THPT QUỲ HỢP 2 TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
1. Các giải pháp tăng cường mối liên hệ gia đình - nhà trường - xã hội với việc giáo dục đạo đức cho ĐVTN học sinh niện nay 
Để đảm bảo công tác giáo dục đạo đức cho HS ĐVTN học sinh hiện nay thêm thiết thực và hiệu quả, rất cần thiết sự thống nhất trong nhận thức và thực hành đạo đức của các chủ thể trong mối liên hệ giữa gia đình - nhà trường - xã hội. Với tinh thần đó, tôi đề xuất các giải pháp tăng cường mối liên hệ này trong việc giáo dục đạo đức, nhân cách, bản lĩnh sống cho ĐVTN học sinh hiện nay. 
Thứ hai: Nhà trường trong mối liên hệ với gia đình và xã hội 
Mối liên hệ giữa nhà trường với gia đình và xã hội đã được nhà nước ta ghi nhận trong điều 93, Luật Giáo dục: “Nhà trường có trách nhiệm chủ động phối hợp với gia đình và xã hội để thực hiện mục tiêu, nguyên lí giáo dục”. Trong quá trình giáo dục đạo đức cho HS, để làm tốt vai trò của mình trong mối liên hệ với gia đình và xã hội điều tất yếu trước tiên là nhà trường phải thực sự là mẫu mực về đạo đức và thực hành đạo đức. Muốn vậy, nhà trường phải đảm bảo: 
Cán bộ quản lí nhà trường phải nghiêm túc thực hiện chương trình giáo dục đạo đức, phẩm chất, rèn luyện HS theo sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ, Bộ GD-ĐT; 
Mỗi thầy giáo, cô giáo phải thực sự là một tấm gương đạo đức và thực hành đạo đức trong suốt quá trình công tác và đời sống, thể hiện thông qua quan hệ thầy - trò, quá trình giao tiếp sư phạm, xử lí tình huống sư phạm, có lối sống giản dị, phong cách gần gũi với người học, giúp đỡ người học tiến bộ; nghiêm túc thực hiện kỉ luật, đoàn kết với đồng nghiệp, tác phong chuẩn mực, 
Phát huy vai trò của Đoàn Thanh niên trong công tác giáo dục đạo đức cho HS. Đoàn Thanh niên phải có trách nhiệm theo dõi và giúp đỡ đoàn viên, hội viên được rèn luyện và trưởng thành qua phong trào đoàn, hội; kiên trì, kiên quyết đấu tranh chống mọi sự thoái hóa tư tưởng, đạo đức, lối sống trong đoàn viên, hội viên; nâng cao chất lượng sinh hoạt tập thể cho HS trong trường học trong đó Đoàn Thanh niên phải đóng vai trò nòng cốt, trực tiếp chỉ đạo và giám sát: nội dung sinh hoạt phải cập nhật phù hợp với tình hình thực tại của HS, thông qua sinh hoạt tập thể để giáo dục ý thức và đạo đức tập thể cho đoàn viên, hội viên của mình. Nội dung giáo dục đạo đức phải được chuẩn bị kĩ lưỡng thành chủ điểm, chuyên để, được thể hiện dưới nhiều hình thức, cách thức phong phú, sinh động phù hợp với tâm lí HS; 
- Nhà trường trong mối liên hệ với gia đình HS: Để thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục đạo đức HS của nhà trường thì việc liên hệ với gia đình HS là vấn đề rất cần thiết. Để thực hiện mối liên hệ này, theo tôi 

File đính kèm:

  • doctieu_luan_van_dung_quy_luat_mau_thuan_trong_viec_nang_cao_ch.doc